Từ một khối ngọc thô tới những món thành phẩm, phần lớn khối lượng đá thường không trở thành vòng hay mặt dây: nó mất đi qua bóc vỏ và sương, qua rãnh cưa, qua khoan, mài, đánh bóng, và qua những vùng nứt, đục bị loại bỏ. Tỉ lệ còn lại dao động rất rộng giữa các khối, không có con số chung nào đáng tin.
Câu hỏi "một khối đá ra được bao nhiêu" hay xuất hiện mỗi khi người ta xem video cắt đá, và câu trả lời trên mạng thường là những con số tròn trịa thiếu cơ sở. Bài này không đưa con số, mà đi theo đường đi của khối đá để chỉ ra đá mất ở đâu, vì sao mất, và những phần thừa như lõi vòng, mẩu vụn được xưởng tận dụng thế nào.
Bóc vỏ và sương: hao hụt đầu tiên
Vỏ và sương thường bị loại bỏ trước tiên vì chúng mờ, bở, nhuốm màu đất. Với những khối đá nằm lâu trong lòng sông hay lớp cuội, vỏ và sương cộng lại có thể chiếm một phần đáng kể thể tích, nhất là ở khối nhỏ, vì khối càng nhỏ thì lớp ngoài càng chiếm tỉ lệ lớn so với lõi. Khối mới tách từ thân đá gốc thì vỏ mỏng, hao hụt ở bước này ít hơn.
Không phải toàn bộ vỏ và sương đều bỏ đi. Những vùng sương vàng, đỏ đủ trong có thể được giữ lại làm món màu ấm. Những mảng vỏ đẹp có khi được thợ chạm giữ làm màu cho chi tiết. Nhưng phần lớn vỏ, nhất là vỏ dày bở, thành bùn trong máng nước của xưởng.
Lưu ý là hao hụt ở bước này không tỉ lệ với chất lượng phần lõi. Một khối vỏ dày có thể có lõi rất tốt, một khối vỏ mỏng có thể có lõi kém. Vỏ chỉ là phần phải trả trước khi được nhìn thấy lõi.
Bóc vỏ cũng không làm một lần là xong. Thợ thường bóc từng lớp, dừng lại xem, rồi bóc tiếp, vì ranh giới giữa sương và lõi không đều. Bóc quá tay ở một chỗ có thể mất luôn phần lõi sát vỏ vốn đẹp; bóc thiếu thì để lại một mảng mờ trên thành phẩm. Sự thận trọng ấy tốn thời gian, nhưng giữ lại được đá ở những khối mà lõi nằm sát mặt.
Rãnh cưa và những đường cắt
Mỗi nhát cưa kim cương mài mất một rãnh đá có bề rộng bằng độ dày lưỡi cưa cộng một chút do rung. Lưỡi đĩa cỡ lớn có rãnh rộng hơn lưỡi nhỏ; cưa dây có rãnh hẹp hơn. Với một khối đá được cắt thành nhiều lát, tổng các rãnh cưa cộng lại thành một lượng đá không nhỏ, biến thành bột lẫn trong nước.
Ngoài rãnh cưa, mỗi mặt cắt còn cần mài phẳng và mài bỏ lớp đá bị sứt mẻ, xước sâu do lưỡi cưa. Lát cắt càng nhiều thì số mặt cần mài càng nhiều. Vì vậy thợ không cắt lát mỏng tuỳ tiện: chia một khối thành mười lát mỏng mất đá cho rãnh cưa và mài mặt nhiều hơn so với chia thành năm lát dày.
Đây cũng là lý do thợ cân nhắc kỹ trước khi cắt. Một nhát cưa thừa không chỉ có nguy cơ xẻ đôi màu, mà còn mất thêm một rãnh đá và hai mặt cần mài. Với đá có giá trị, mỗi milimét ở đây đều được tính.
Còn một kiểu hao hụt ít ai nhắc là hao hụt do sự cố. Lưỡi cưa lệch làm mặt cắt bị vát, phải mài bù; một lát mỏng bị mẻ góc khi tháo khỏi máy; một phôi vỡ ngay khi gần xong vì một vết nứt ẩn. Xưởng nào cũng có những lần như thế, và chúng được tính vào cái giá chung của nghề chứ không ai nhắc tên.
Khoan vòng và phần lõi
Một chiếc vòng tay được lấy ra từ lát đá bằng khoan ống, tạo hai đường tròn đồng tâm. Thứ giữ lại là vành khuyên ở giữa. Thứ còn lại gồm phần đá bên ngoài vòng tròn lớn, và một đĩa đá tròn bên trong vòng tròn nhỏ, gọi là lõi vòng. Lõi vòng chiếm một diện tích khá lớn, vì lòng vòng phải đủ rộng để bàn tay luồn qua.
Sau khi khoan, phôi vòng còn được mài tròn bản, mài trong lòng, mài vát mép và đánh bóng. Mỗi bước lấy đi thêm một lớp đá. Nếu trong quá trình mài lộ ra nứt mà lúc vạch không thấy, phôi có thể phải mài nhỏ lại thành vòng ni bé hơn, hoặc bỏ ý làm vòng để làm món khác.
Vì vậy, so với thể tích của vùng đá đã dành cho nó, thể tích một chiếc vòng thành phẩm khá nhỏ. Điều này không làm chiếc vòng đắt hay rẻ hơn một cách đơn giản, nhưng giải thích vì sao trong xưởng người ta trân trọng lõi vòng đến vậy.
Có xưởng còn khoan lồng, tức là khoan một chiếc vòng ni nhỏ ngay trong lõi của chiếc vòng ni lớn khi vùng đá đủ rộng và đủ liền. Cách làm này tận dụng được lõi tốt nhất, và cũng là lý do đôi khi bạn thấy hai chiếc vòng cùng sắc, cùng vân nhưng khác cỡ được bán thành một cặp mẹ con.
Đường đi của đá qua từng bước: ví dụ giả định
Bảng dưới là một ví dụ giả định, chỉ để hình dung thứ tự và tính chất hao hụt; các khối đá thật có thể khác rất xa, nên không dùng để ước tính cho bất kỳ khối nào.
| Bước | Đá mất đi vì đâu | Phần tách ra còn dùng được không |
|---|---|---|
| Bóc vỏ, sương | Lớp ngoài mờ, bở | Đôi khi giữ sương vàng đỏ hay mảng vỏ làm màu chạm |
| Cưa lát | Rãnh cưa thành bột | Không |
| Mài phẳng mặt cắt | Lớp sứt mẻ, xước sâu | Không |
| Loại vùng nứt, đục | Vùng không đủ liền hay đủ đẹp cho món chính | Thường làm hạt, mặt nhỏ, khảm |
| Khoan vòng | Phần ngoài vòng tròn và lõi vòng | Lõi vòng làm mặt tròn, mặt chạm; phần ngoài làm mặt nhỏ, hạt |
| Mài tinh, đánh bóng | Lớp mỏng trên mọi mặt | Không |
Bảng cho thấy hao hụt không dồn ở một bước, mà rải đều qua cả chuỗi. Nó cũng cho thấy phần "thừa" không hẳn là phế liệu: rất nhiều thứ tách ra ở các bước giữa vẫn được dùng, chỉ thành những món nhỏ hơn.
Lõi vòng và mẩu vụn đi đâu
Lõi vòng thành mặt tròn có lỗ. Đĩa đá tròn lấy ra từ lòng vòng thường được khoan lỗ giữa, mài thành mặt dây hình tròn có lỗ. Người Hoa gọi kiểu mặt này là "bình an khấu", nghĩa là chiếc khuy bình an. Một lõi vòng lớn có khi còn cho ra một chiếc vòng ni rất nhỏ cho trẻ em hay một chiếc nhẫn trơn.
Mảnh ngoài vòng thành mặt nhỏ. Phần đá bao quanh chiếc vòng trên lát cắt thường có hình lưỡi liềm hay góc cạnh. Thợ chạm biến chúng thành mặt lá, mặt hồ lô nhỏ, hoặc mài thành mặt trứng.
Vùng nứt thành hạt. Vùng đá nhiều nứt vẫn có những ô nhỏ liền lạc giữa các vết. Chúng được cắt thành khối vuông nhỏ rồi mài tròn thành hạt chuỗi.
Mẩu rất nhỏ thành món khảm. Những mẩu cỡ móng tay có khi được giữ để gắn lên trang sức kim loại, làm nút, làm chi tiết khảm trên đồ thủ công.
Phần không dùng được. Bột đá từ rãnh cưa, mài lẫn trong nước được lắng lại; xưởng có trách nhiệm xử lý bùn này chứ không đổ thẳng ra cống. Một số mẩu đá đục thấp cấp có thể được bán theo cân cho những nơi làm đồ trang trí rẻ.
Hao hụt cao có nghĩa gì với người mua thành phẩm
Hiểu hao hụt giúp bạn bớt ngạc nhiên trước một vài điều. Vì sao một khối đá trông rất to lại chỉ ra vài món: vì phần lớn khối lượng nằm ở vỏ, ở vùng nứt, ở rãnh cưa. Vì sao những món như mặt tròn có lỗ hay hạt chuỗi khá phổ biến: vì chúng tận dụng phần thừa từ việc làm món chính. Vì sao vòng nguyên vẹn bản dày được coi trọng: vì nó đòi hỏi một vùng đá rộng mà hầu như không phần nào được phép có lỗi.
Nhưng hao hụt cao không có nghĩa món nào làm từ phần thừa cũng kém. Một lõi vòng từ khối đá tốt có thể thành mặt tròn rất đẹp, đẹp hơn nhiều chiếc vòng làm từ khối đá kém. Chất lượng của món ngọc vẫn do chất đá ở đúng chỗ ấy quyết định, không do nó được cắt ra ở bước nào.
Điều nên tránh là dùng câu chuyện hao hụt để biện minh cho một mức giá mà bạn không kiểm được. Người bán hay nói "cả khối đá chỉ ra mỗi chiếc này" như một lý do; câu ấy có khi đúng, có khi chỉ là lời quảng cáo. Thứ bạn đánh giá được là món ngọc trước mặt và giấy giám định đi kèm, không phải câu chuyện về khối đá mà bạn chưa từng thấy.
Xưởng giữ phần thừa như thế nào
Ở các xưởng làm lâu năm, phần thừa không bị gom chung một rổ. Lõi vòng được xếp riêng theo khối đá gốc, có đánh dấu để khi cần làm một bộ đồng sắc vòng và mặt có thể tìm lại. Mẩu có màu được tách khỏi mẩu trắng. Mẩu đủ cỡ làm hạt được để riêng với mẩu chỉ đủ khảm.
Thói quen phân loại này vừa là chuyện tiết kiệm, vừa là chuyện giữ thông tin. Một mẩu đá rời khỏi khối gốc mà không ghi chú thì sau vài tháng, không ai còn biết nó từ đâu ra, cùng chất với món nào. Với những xưởng nhận đặt hàng theo yêu cầu, khả năng tìm lại phần thừa đồng chất là một lợi thế.
Người ngoài nghề đến thăm xưởng thường bất ngờ vì những chiếc bát, chiếc khay chứa đầy mẩu ngọc nhỏ. Đó là phần đời sau của khối đá thô, ít được nhắc tới, nhưng là lý do vì sao nghề chế tác ngọc có thể tồn tại mà không lãng phí quá nhiều thứ đá vốn hiếm.
Câu hỏi thường gặp
Một khối ngọc thô thường ra được bao nhiêu phần trăm thành phẩm?
Không có con số chung đáng tin. Tỉ lệ phụ thuộc vào độ dày vỏ và sương, số lượng và hướng vết nứt, loại thành phẩm và tay nghề xưởng. Các con số tròn trịa trên mạng thường thiếu cơ sở.
Lõi vòng ngọc được dùng làm gì?
Lõi vòng thường được khoan lỗ giữa và mài thành mặt dây tròn có lỗ, kiểu mặt người Hoa gọi là bình an khấu. Lõi lớn có khi còn làm được một chiếc vòng ni rất nhỏ hoặc một chiếc nhẫn trơn.
Mặt dây làm từ phần thừa có kém hơn vòng không?
Không nhất thiết. Chất lượng do chất đá ở đúng chỗ ấy quyết định. Một mặt tròn từ lõi vòng của khối đá tốt có thể đẹp hơn nhiều chiếc vòng làm từ khối đá kém.
Vì sao cắt nhiều lát mỏng lại hao đá hơn?
Vì mỗi nhát cưa mất một rãnh đá, và mỗi mặt cắt còn cần mài phẳng bỏ lớp sứt mẻ. Cắt càng nhiều lát thì càng nhiều rãnh cưa và mặt cần mài, nên tổng lượng đá mất đi tăng lên.
Người bán nói cả khối đá chỉ ra một món thì có nên tin?
Câu ấy có khi đúng, có khi là lời quảng cáo, và bạn không kiểm được. Thứ đánh giá được là chính món ngọc trước mặt và giấy giám định đi kèm, không phải câu chuyện về khối đá bạn chưa từng thấy.
Bùn đá trong xưởng ngọc xử lý thế nào?
Bột đá từ cưa và mài lẫn trong nước làm mát cần được lắng lọc trước khi thải ra ngoài. Xưởng làm đúng cách có bể lắng và xử lý bùn riêng, không đổ thẳng ra cống hay ra kênh rạch.