Phần lớn thuật ngữ về đá thô ngọc phỉ thuý ở Việt Nam là âm Hán Việt hoặc dịch nghĩa từ tiếng của người buôn gốc Hoa ở Vân Nam và Myanmar: mao liệu là đá thô chưa mở, bì xác là vỏ, vụ là sương, minh liệu là đá đã lộ ruột, lão khanh là cách khen chất đá. Chúng là ngôn ngữ chợ, không phải thuật ngữ giám định, và nghĩa có thể xê dịch giữa các nhóm người buôn.
Bảng tra dưới đây xếp các từ thường gặp theo đúng thứ tự một khối đá đi qua: gọi tên khối đá, tả vỏ và dấu hiệu trên vỏ, nói về lõi, mở và cắt, trạng thái khi mua bán, và những lời rao hay nghe. Mỗi từ có nghĩa đen, nghĩa trong nghề và một lưu ý ngắn. Mục đích là để bạn hiểu người khác đang nói gì, không để bạn dùng những từ ấy như chìa khoá mua bán.
Gọi tên khối đá
Những từ dùng để chỉ chính khối đá, trước khi nói tới vỏ hay ruột.
| Thuật ngữ | Nghĩa đen | Nghĩa trong nghề | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Nguyên thạch | Đá nguyên gốc | Đá ngọc chưa chế tác nói chung | Từ chung, có khi dùng cả cho khối đã cắt lát |
| Mao liệu | Liệu còn lông, còn thô | Khối đá còn nguyên vỏ, chưa mở hay mới mở rất ít | Từ phổ biến nhất trong giới buôn đá thô |
| Sơn thạch | Đá núi | Khối tách từ thân đá gốc, vỏ mỏng, góc cạnh | Chuyện đá núi, đá sông thuộc phần địa chất vùng mỏ |
| Thuỷ thạch | Đá nước | Khối đã lăn trong sông suối, tròn cạnh, vỏ dày | Tên gọi theo hình dạng, không phải nhãn chất lượng |
| Phiến liệu | Liệu dạng tấm | Lát đá đã cưa, sẵn sàng vạch phôi | Thông tin đầy đủ hơn hẳn mao liệu |
Trong video bán hàng, chữ "mao liệu" hay đi kèm hình ảnh những đống đá vỏ vàng xếp la liệt. Chữ ấy chỉ nói về trạng thái chưa mở của khối đá, không nói gì về chất lượng của nó.
Vỏ và dấu hiệu trên vỏ
Nhóm từ người buôn dùng khi xoay một khối mao liệu trong tay.
| Thuật ngữ | Nghĩa đen | Nghĩa trong nghề | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Bì xác | Vỏ | Lớp ngoài phong hoá của khối đá | Đi kèm hàng chục tên kiểu vỏ theo màu và hạt |
| Phiên sa, cát đứng | Cát lật lên | Hạt cát trên vỏ nổi rõ, sắc cạnh | Có cơ sở một phần về độ chặt vùng ngoài |
| Mãng, mãng đới | Con trăn, dải trăn | Dải trên vỏ khác thớ hay khác màu, chạy quanh khối | Gợi ý một mạch đá khác bên dưới, không bảo đảm có màu |
| Tùng hoa | Hoa thông | Chấm, đám xanh lục trên vỏ | Có thể là màu ngọc, cũng có thể là rêu hay khoáng khác |
| Tiển | Bệnh lác | Mảng đen hay xanh đen loang | Hai câu truyền miệng trái ngược về quan hệ với màu |
Những từ trong bảng này là phần "đọc vỏ" của nghề buôn đá thô. Đọc vỏ có giá trị như một thói quen quan sát, nhưng mỗi dấu hiệu chỉ là một khả năng.
Bên dưới vỏ
Nhóm từ dùng khi đã thấy được phần đá bên trong, qua cửa sổ hay mặt cắt.
| Thuật ngữ | Nghĩa đen | Nghĩa trong nghề | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Vụ | Sương mù | Dải mờ giữa vỏ và lõi; có vụ trắng, vàng, đỏ, đen | Nói về vùng sát vỏ, không nói về tâm khối |
| Nhục | Thịt | Phần lõi jadeite bên trong | Người buôn khen "nhục tế" là thịt mịn, tức hạt nhỏ |
| Liệt | Nứt | Vết nứt hở | Kẻ thù số một của phôi vòng |
| Thạch văn | Vân đá | Vết nứt cũ đã được khoáng chất lấp liền | Thường không làm vỡ, chủ yếu ảnh hưởng vẻ ngoài |
| Miên | Bông | Đốm, đám trắng đục trong ngọc | Bông nhiều làm giảm độ trong |
Phần lớn các từ về chất ngọc thành phẩm như chủng, thuỷ, địa, sắc thuộc về một bảng khác. Ở giai đoạn đá thô, người ta nói nhiều về vụ, nhục, liệt hơn, vì đó là những thứ thấy được đầu tiên khi mở đá.
Mở và cắt
Nhóm từ chỉ các thao tác khiến khối đá lộ ra bên trong.
| Thuật ngữ | Nghĩa đen | Nghĩa trong nghề | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Khai song | Mở cửa sổ | Mài hay cắt một mảng vỏ để nhìn vào | Người bán thường chọn chỗ đẹp nhất để mở |
| Sát khẩu | Miệng mài | Cửa sổ làm bằng cách mài | Nông, cho thấy vùng sát mặt |
| Thiết khẩu | Miệng cắt | Cửa sổ làm bằng cách cưa bỏ một góc | Cho thấy được chút chiều sâu |
| Giải thạch | Cởi đá | Cưa mở khối đá thành lát, thành miếng | Bước khó quay lại nhất của cả chuỗi |
| Trạc tâm | Lòng vòng | Đĩa đá lấy ra từ giữa phôi vòng | Thường thành mặt bình an khấu hay nhẫn |
Nghe người bán nói "đã khai song ba mặt" là biết khối đá có ba cửa sổ. Câu hỏi nên đặt tiếp theo là ai mở, mở ở đâu và cửa sổ khi khô trông thế nào.
Trạng thái khi mua bán
Nhóm từ chỉ mức độ một khối đá đã lộ diện khi đem bán. Chữ "đổ" trong các từ này nghĩa là cược.
| Thuật ngữ | Nghĩa đen | Nghĩa trong nghề | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Toàn đổ | Cược toàn bộ | Khối đá còn nguyên vỏ, không có cửa sổ | Mức ẩn số cao nhất |
| Bán đổ | Cược một nửa | Khối đá đã có cửa sổ hay đã cắt một phần | Vẫn là đoán; thông tin có thể bị chọn lọc |
| Minh liệu | Liệu sáng rõ | Đá đã cắt lộ ruột, thấy được chất đá | Gần với mua hàng đã biết hơn là cược |
| Đổ thạch | Cược đá | Việc mua đá chưa cắt, cược vào phần bên trong | Rủi ro rất cao, giới hiểu nghề không coi là đầu tư |
Những từ này nghe như phân loại hàng hoá, nhưng thực chất là thang đo mức rủi ro. Một khối toàn đổ hay bán đổ, dù được giới thiệu khéo tới đâu, vẫn là lời mời đặt cược vào điều không ai nhìn thấy. Khi một người bán dùng chữ "bán minh liệu" cho một khối chỉ có một ô cửa sổ nhỏ, đó là đang nói quá; minh liệu đúng nghĩa là đá đã cắt đủ để thấy chất đá ở phần lớn khối.
Những lời rao hay nghe và nên hiểu thế nào
Lão khanh. Nghĩa đen là hố mỏ cũ. Trong nghề, chữ này thường được dùng như lời khen chất đá chặt, trong, đẹp, chứ không còn chỉ chắc nơi khai thác hay tuổi của mỏ. Không ai kiểm được một khối đá có thật từ "mỏ cũ" hay không, nên nghe chữ này như một tính từ quảng cáo.
Tân khanh. Nghĩa đen là hố mỏ mới, thường được dùng ngược với lão khanh để chỉ đá lỏng, kém trong. Cũng như trên, đây là cách nói về chất đá, không phải thông tin xuất xứ kiểm chứng được.
Cắt lên, cắt sập. Hai cách nói người buôn dùng sau khi cắt, dịch từ tiếng lóng gốc Hoa: cắt ra hơn kỳ vọng thì gọi là "cắt lên", kém kỳ vọng thì "cắt sập". Bạn sẽ nghe hai chữ này rất nhiều trong video. Chúng chính là ngôn ngữ của cược, và nhắc rằng mỗi khối "cắt lên" đứng sau nó là những khối "cắt sập" ít ai chiếu.
Đá vùng mỏ nổi tiếng. Tên một vùng mỏ hay một chợ ngọc lớn được gắn vào khối đá để tăng sức hút. Xuất xứ địa lý của jadeite thường không xác định chắc được, kể cả ở phòng giám định, nên lời rao kiểu này không có cách nào kiểm.
Đá của mỏ đã đóng cửa. Câu chuyện "mỏ đã đóng, đá này không còn nữa" là cách tạo cảm giác khan hiếm. Có những mỏ thật sự ngừng khai thác, nhưng một khối đá đơn lẻ không mang theo bằng chứng nào về chuyện ấy.
Vì sao cùng một từ lại có nhiều nghĩa
Các thuật ngữ đá thô đi một con đường dài trước khi tới tai người Việt. Phần lớn sinh ra trong giới buôn nói tiếng Hoa ở Vân Nam và vùng mỏ, nơi người buôn còn dùng lẫn cả từ tiếng Miến. Khi tới Quảng Đông, tới Hồng Kông, tới các chợ đá vùng biên của nước ta, chúng lại được đọc theo phương ngữ khác, dịch theo nghĩa khác, rút gọn theo thói quen của từng nhóm.
Kết quả là cùng một chữ có thể được người này đọc âm Hán Việt, người kia dịch nghĩa. "Vụ" có người gọi là sương, có người gọi là mù. "Nhục" có người nói là thịt, có người nói là ruột. Có từ được dùng hẹp ở chợ này mà rộng ở chợ khác, như tên các kiểu vỏ, có nhóm phân biệt tới hàng chục loại, có nhóm chỉ gọi vài loại.
Vì vậy khi gặp một từ lạ, cách an toàn nhất là hỏi lại người nói bằng câu đơn giản: anh chị đang chỉ vào chỗ nào, nó trông thế nào. Đừng ngại hỏi; ngay cả người trong nghề cũng thường phải hỏi nhau như thế khi làm việc với người từ chợ khác tới. Bảng tra trên chỉ là điểm khởi đầu, không phải từ điển chuẩn.
Dùng bảng tra này thế nào cho có ích
Biết thuật ngữ giúp bạn bớt bị choáng ngợp. Khi xem một video cắt đá hay nghe người buôn nói chuyện, bạn sẽ nhận ra phần nào là mô tả thật như vỏ cát vàng, cửa sổ mài, lát có nứt, và phần nào là lời đánh giá hay quảng cáo như lão khanh, "mỏ đã đóng", "chắc chắn cắt lên". Tách được hai loại câu ấy là đã tỉnh táo hơn nhiều người xem.
Biết thuật ngữ cũng giúp bạn đặt câu hỏi đúng chỗ. Thay vì hỏi "đá này có tốt không", bạn có thể hỏi "khối này toàn đổ hay đã khai song", "cửa sổ là sát khẩu hay thiết khẩu", "có liệt chạy qua vùng định làm vòng không". Những câu hỏi cụ thể khiến người đối diện khó trả lời chung chung.
Nhưng thuật ngữ không biến ai thành người hiểu đá. Những người buôn dùng các từ này mỗi ngày vẫn đoán sai đá thô thường xuyên. Nếu bảng tra này khiến bạn thấy tò mò về nghề, hãy giữ sự tò mò ấy ở mức tìm hiểu, tham quan, đọc thêm; đừng để vốn từ mới trở thành lý do để bắt đầu mua đá chưa cắt.
Câu hỏi thường gặp
Mao liệu là gì?
Mao liệu là cách người buôn gốc Hoa gọi khối đá ngọc thô còn nguyên vỏ, chưa mở hoặc mới mở rất ít. Chữ này chỉ nói về trạng thái của khối đá, không nói gì về chất lượng bên trong.
Lão khanh có phải là ngọc từ mỏ cũ không?
Nghĩa đen là hố mỏ cũ, nhưng trong buôn bán, chữ này thường được dùng như lời khen chất đá chặt và trong. Không có cách nào kiểm chứng một khối đá có thật từ mỏ cũ, nên nên hiểu đây là tính từ quảng cáo.
Toàn đổ, bán đổ và minh liệu khác nhau thế nào?
Toàn đổ là đá còn nguyên vỏ, không cửa sổ. Bán đổ là đá đã có cửa sổ hoặc cắt một phần. Minh liệu là đá đã cắt lộ ruột. Thứ tự này cũng là thứ tự giảm dần của phần ẩn số khi mua.
Cắt lên, cắt sập nghĩa là gì?
Là hai cách nói người buôn dùng sau khi cắt đá: cắt ra hơn kỳ vọng gọi là cắt lên, kém kỳ vọng gọi là cắt sập. Đây là ngôn ngữ của việc cược đá, và các video thường chỉ chiếu những lần cắt lên.
Các thuật ngữ này có xuất hiện trên giấy giám định không?
Thường không. Giấy giám định jadeite dùng ngôn ngữ khoáng vật học và mô tả xử lý. Các từ như mao liệu, bì xác, lão khanh là ngôn ngữ chợ của người buôn, nghĩa có thể khác nhau giữa các nhóm.
Biết thuật ngữ đá thô có giúp mua đá thô an toàn hơn không?
Chỉ giúp bạn hiểu người khác đang nói gì và đặt câu hỏi cụ thể hơn. Nó không làm giảm rủi ro bản chất của đá chưa cắt. Những người dùng các từ này hằng ngày vẫn đoán sai thường xuyên.